LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thủy tiểu luận kinh tế phát triển": http://123doc.vn/document/567073-thuy-tieu-luan-kinh-te-phat-trien.htm
4,49% so với tháng 12/2008. Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu dùng khá thấp so với
những năm gần đây và là mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống
và sản xuất của người dân. Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng
hoá để tính CPI tăng thấp. Chỉ số CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm
(0,59%) nhưng lại có xu hướng giảm trong những tháng cuối năm. Như vậy, nếu
như lương thực, thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm
2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa.
Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là
một điểm sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới
chưa thoát khỏi suy thoái kinh tế. Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 có
tác động tích cực đến ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triển
khai các chính sách kích thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an
sinh xã hội. Mặc dù xu hướng tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt,
nhưng một số yếu tố chủ yếu có thể sẽ tác động làm tăng nguy cơ tái lạm phát cao
trở lại. Đó là tăng trưởng tín dụng đang ở mức cao
3
do thực hiện các chính sách tài
chính, tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế; giá của các mặt hàng nước ta nhập
khẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng tăng cao do
sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đặc biệt giá xăng dầu. Mặt khác, những nguyên
nhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở Việt Nam năm 2008 vẫn còn. Đó là sự thiếu kỷ
luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) và tập đoàn lớn. Do vậy, kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng cho
các DNNN và tập đoàn mà thiếu sự thẩm định và giám sát thận trọng chắc chắn sẽ
kích hoạt cho lạm phát trở lại.
5
Nguồn: http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/lam-phat-binh-quan-12-thang-
nam-2009-la-688-2009122410051546ca33.chn
Năm 2010, lạm phát cả nước ở mức 11,75%:Chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng
12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước 2010
6
lên 11,75% so với năm 2009. Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốc
hội đề ra hồi đầu năm (khoảng 8%).
Trong khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng (cách tính mới của Tổng
cục thống kê) thì lạm phát năm 2010 tăng 9.19% so với năm 2009.
DIỄN BIẾN TỐC ĐỘ TĂNG CPI 2010
Nguồn: http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/cpi-thang-12-tang-198-ca-nam-
tang-1175-20101224094622862ca33.chn
Ta có thể thấy lạm phát tăng cao trong các tháng đầu năm và cuối năm, mức
tăng có độ vênh lớn, tháng cao nhất so với tháng thấp nhất lệch nhau đến hơn
1,5%. 3 tháng đầu năm CPI tăng cao nhưng ngay sau đó có liền 5 tháng tăng thấp
về gần mức 0%, sau đó lại vượt lên trên 1% vào 4 tháng còn lại của năm. Các
tháng từ tháng 9 đến tháng 11, mức tăng đều đạt mức kỉ lục của 15 năm trở lại
đây.
Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20%. Tiếp đó
là hàng ăn (16,18%), nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%). Các ngành Giao thông,
hàng hóa & dịch vụ khác, thực phẩm đều có mức tăng trên 10%. Bưu chính viễn
thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010. Chỉ số
giá vàng tăng 36,72%, chỉ giá USD tăng 7,63%.Về CPI của các vùng miền, đáng
7
chú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12 tăng 2,04%; cao hơn 1,87% của
khu vực thành thị.
Bước sang năm 2011, Chỉ số giá tiêu dùng tuy vẫn ở mức cao nhưng đã có
xu hướng giảm. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 tăng 0,53% so với tháng trước,
thấp hơn nhiều so với mức tăng 1,38% và 1,98% của cùng kỳ năm 2009 và năm
2010. Tháng Mười Hai là tháng thứ năm liên tiếp trong năm nay có chỉ số giá tiêu
dùng tăng thấp hơn 1%. Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, các nhóm có chỉ số
giá tăng cao hơn mức tăng chung là: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,86%;
nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,69% (Lương thực tăng 1,40%; thực phẩm
tăng 0,49%); Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68%. Các nhóm hàng hóa và dịch
vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng
tăng 0,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng
0,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,24%; giao thông tăng 0,16%; giáo dục tăng
0,05%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,09%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 so với tháng 12/2010 tăng 18,13%. Chỉ
số giá tiêu dùng bình quân năm 2011 tăng 18,58% so với bình quân năm 2010.
Biểu đồ so sánh lạm phát năm 2010 với 2011
8
Nguồn: http://vneconomy.vn/20111225091658359P0C9920/nhin-lai-lam-
phat-2011-hai-dot-bien-va-su-di-hoang-cua-dong-tien.htm
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2012
tăng 0,27% so với tháng trước, lạm phát năm 2012 được kiềm chế ở mức 6,81%.
9
Trong năm 2012 có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng chỉ
tăng dưới 0,5%”.
Cụ thể, theo phân tích của Tổng cục Thống kê, CPI tăng không quá cao vào
2 tháng đầu năm (Tăng 1,0% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăng
cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và
dịch vụ y tế và nhóm giáo dục. Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong
những tháng cuối năm.
Về nhóm hàng, CPI bình quân của nhiều nhóm hàng năm nay có mức biến
động nhiều và khác xu hướng so với năm trước. Nhóm hàng lương thực, thực
phẩm tăng thấp hơn mức tăng chung (Lương thực tăng3,26%, thực phẩm tăng
8,14%, CPI bình quân chung tăng 9,21%), trong khi năm 2011 đây là nhóm hàng
có chỉ số giá tăng cao nhất và cao hơn nhiều so với mức tăng chung (Lương thực
tăng 22,82%, thực phẩm tăng 29,34%, CPI bình quân chung tăng 18,58%).
Riêng nhóm dịch vụ y tế có sự thay đổi lớn với chỉ số giá tăng mạnh ở mức
20,37%, cao hơn nhiều lần mức tăng 4,36% của năm 2011. Trong 2 năm qua, chỉ
số giá nhóm giáo dục vẫn duy trì mức tăng cao (Năm 2011 tăng 23,18%; năm 2012
tăng 17,07%) và chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông vẫn duy trì mức giảm (Năm
2011 giảm 5,06%; năm 2012 giảm 1,11%).
Chỉ số giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,46% so với tháng trước; tăng 0,4% so
với tháng 12/2011. Chỉ số giá USD tháng 12/2012 tăng 0,03% so với tháng trước;
giảm 0,96% so với tháng 12/2011.
10
Nguồn: Tổng cục Thống kê/Gafin
http://gafin.vn/20121224022122434p0c33/lam-phat-ca-nam-2012-la-681.htm
Nhìn lại năm 2012, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê Đỗ Thức cho biết,
chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 (tăng 6,81% so với cùng kỳ năm 2011) xấp xỉ mức
tăng 6,52% của năm 2009, thấp hơn nhiều so với mức tăng 11,75% của năm 2010
và mức tăng 18,13% của năm 2011, nhưng lại là năm giá có nhiều biến động bất
thường. Cụ thể chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá cao vào 2 tháng đầu năm (tăng
0,1% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2), nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với
mức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm
giáo dục. Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối năm
(chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,85%, tháng 11 tăng 0,47%). Điều này thể hiện
tính kịp thời và hiệu quả của việc triển khai Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 26/9/2012
của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình
ổn giá.
11
Lạm phát giai đoạn 2009-2012
Nguồn: http://www.tinmoi.vn/lam-phat-cao-se-tiep-tuc-nhan-chim-thi-truong-dia-
oc-011050920.html
2. Nguyên nhân gây lạm phát
12
2.1 . Lạm phát theo thuyết tiền tệ
Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá… có nhiều nguyên nhân dẫn đến
lạm phát. Chẳng hạn thời tiết không thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giá
lương thực tăng lên. Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá hàng tiêu dùng tăng lên.
Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặt hàng
cũng tăng. Tăng lương đẩy giá lên cao. Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liên
tục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách.
Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung
tiền.
Theo học thuyết Keynes, lạm phát xảy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch vụ
trong nền kinh tế (do cầu kéo).
Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản xuất (chi
phí đẩy).
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi
nguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau.
Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỷ lệ lạm phát, mà
dựa vào đó ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp. Trong việc chống
lạm phát, các ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cung tiền.
Tăng cung tiền có thể đạt được bằng 2 cách:
Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiện kinh
doanh tốt), hoặc Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng.
Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí.
Về mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng. Nếu
cung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tăng
13
giá. Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm. In tiền
để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng.
Ví dụ:
Năm 1966-1967, chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho những
chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ 3% (năm
1967) đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức cân
bằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định. Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng
không đổi. Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với
tỷ lệ tương ứng. Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Đây là lý do tại sao ngân
hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này.
2.2. Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo)
Tăng cung tiền là nguyên nhân duy nhất dẫn đến việc tăng cầu về hàng hoá
và dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân tố phi
tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm, nếu cầu về
hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử
dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp
ứng được sự gia tăng của cầu. Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy. Lạm phát
do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó. Chẳng hạn ở Mỹ, sử
dụng công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở
Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng.
2.3. Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm thất
nghiệp nên còn gọi là lạm phát "đình trệ". Hình thức của lạm phát này phát sinh từ
phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng. Điều
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét